A TÌ ĐẠT MA CÂU XÁ (Tập V) – Tuệ Sỹ Dịch & Chú, tái bản 2025

Tình trạng: Còn hàng Thương hiệu: Hương Tích
  • Trọng lượng: 600
  • Nhà xuất bản: NXB Đà Nẵng
  • Ngày xuất bản: 2025
  • Công ty phát hành: Hương Tích
  • Số trang: 432 trang
  • Hình thức bìa: bìa mềm tay gấp
Giá: 250,000₫
Số lượng:
Chính sách bán hàng
Cam kết 100% chính hãng Cam kết 100% chính hãng
Miễn phí giao hàng từ 250k (nội thành HCM), và từ 500k (ngoại thành HCM và tỉnh) Miễn phí giao hàng từ 250k (nội thành HCM), và từ 500k (ngoại thành HCM và tỉnh)
Hỗ trợ từ thứ 2 đến thứ 7 (8h - 18h) Hỗ trợ từ thứ 2 đến thứ 7 (8h - 18h)
Thông tin thêm
Hoàn tiền
111%
nếu hàng giả Hoàn tiền 111% nếu hàng giả
Mở hộp
kiểm tra
nhận hàng Mở hộp kiểm tra nhận hàng
Đổi trả trong
7 ngày Đổi trả trong 7 ngày

THƯỜNG ĐƯỢC MUA CÙNG

Mô tả sản phẩm

A-TÌ-ĐẠT-MA CÂU-XÁ (Tập V) – Tuệ Sỹ Dịch & Chú, tái bản có chỉnh sửa và bổ sung Thiên cuối PHÁ NGÃ LUẬN. Định  bản 2025

 

KHÁI THUYẾT THIỀN – ĐỊNH PHẬT GIÁO

TƯ DUY – THIỀN

[Trích…]

  1. Tư duy nhận thức

Trong ngữ vựng Phật giáo, thiền hay thiền-na (dhyāna) là một phần của định (samādhi).[1] Vậy, ở đây nên nói về ý nghĩa của định trước.

Nói một cách phổ thông, định là một chức năng hoạt động của tâm lý nhận thức. Để nhận thức một đối tượng, giác quan (indriya: căn) cần phải tập trung trên đối tượng ấy. Năng lực và thời gian tập trung càng cao, đối tượng càng xuất hiện rõ ràng hơn. Không có định, tức không có sự đứng im không dao động của đối tượng và không có sự tập trung của thức trên đối tượng tương ứng ấy, thì nhận thức không phát sinh. Nhận thức hay tuệ (prajñā) là khả năng lựa chọn và phán đoán: “cái này là cái gì?” Đây là mô tả quá trình nhận thức nói theo các nhà Hữu bộ (Sarvāstivāda) và Duy thức (Vijñaptimātravāda).[2] Các vị này nhận thức về tồn tại theo đặc tính sát-na diệt (kṣaṇika), theo đó tất cả mọi thực thể tâm hay vật chỉ tồn tại trong một sát-na, sau khi xuất hiện chúng biến mất trong khoảnh khắc. Theo quan điểm này, trên cơ sở tâm lý nhận thức (cognitive psychology), trong sát-na thứ nhất đối tượng được bắt nắm với tâm tập trung chuyên nhất; trong sát-na thứ hai, tâm chuyên nhất trên một đối tượng khác, như chi tiết khác của vật thể được nhận thức. Chuỗi nhận thức như vậy diễn ra trong nhiều sát-na, đối tượng được bắt nắm với nhiều chi tiết khác nhau. Như vòng hào quang sau tượng Phật được thấy xoay chuyển liên tục với các bóng đèn cố định thứ tự tiếp nối nhau tắt và đỏ. Trong trạng thái hoạt động này, với sự xuất hiện và biến mất liên tục của đối tượng, sự chú tâm hay định cũng tồn tại chỉ trong một sát-na, xuất hiện và biến mất cùng với đối tượng của nó. Trong sát-na thứ hai, tín hiệu từ đối tượng tiếp tục xuất hiện trên quan năng nhận thức (indriya: căn) và bấy giờ công cụ nhận thức (vijñāna: vijñā+ana) xuất hiện cùng với sự chú tâm trên đối tượng này. Đối tượng xuất hiện trong sát-na thứ nhất đã biến mất theo quy luật sát-na vô thường nên tự thể của nó không xuất hiện trong sát-na thứ hai như là đối tượng nhận thức hiện tại. Ảnh tượng của nó được nhận thức như là sự thể hiện tại ấy là do bởi hoạt động của tâm sở niệm (smṛti) hay ký ức. Trong sát-na thứ hai này khi ý thức tập trung trên tín hiệu được tiếp thu với hoạt động của tâm sở định, bấy giờ ký ức hay niệm (smṛti) truy xuất ảnh tượng quá khứ trực tiếp rồi so sánh để đồng nhất quá khứ với hiện tại, và từ đó phán đoán “nó là cái gì”. Quá trình nhận thức với các tâm sở niệmđịnh và huệ này diễn ra liên tục trong nhiều sát-na cho đến khi đối tượng được nhận thức như một toàn thể, đồng nhất quá khứ với hiện tại. Trên cơ sở tâm lý học nhận thức như vậy, mọi hoạt động tư duy của tâm hay thức đều được gọi là định, Không có định, sẽ không có nhận thức phán đoán. Tuy vậy, chỉ trong trường hợp sự chú tâm của thức trên một đối tượng được duy trì trong nhiều sát-na cùng với tín hiệu của đối tượng ấy tồn tại hiện tiền, bấy giờ nó mới được nói là định theo nghĩa định tức thiền (samādhi = dhyāna). Thế nhưng, tâm sở định trong quá trình nhận thức chỉ chú tâm trên tín hiệu của đối tượng trong một sát-na, và nó phân tán trong nhiều tín hiệu qua nhiều sát-na khác nhau; trong khi trong trạng thái thiền, tín hiệu được duy trì bởi định trong nhiều sát-na liên tiếp. Định, trong trường hợp này, được định nghĩa là “tâm nhất cảnh tánh” (cittasya ekāgratā): tính chất tập trung trên một điểm của tâm. Sự sai biệt này là do năng lực tập trung mạnh hay yếu.

Nói vắn tắt, niệm–định–huệ là các yếu tố tâm lý trong quá trình nhận thức thường nghiệm, phổ thông, cũng là các yếu tố hoạt động trong trạng thái thiền hay nhập định, chỉ khác nhau bởi cường độ và thời gian tập trung. Điều này muốn nói rằng tư duy thiền là trình độ tiến hóa cao cấp của tư duy phổ thông. Hệ luận của vấn đề ở đây sẽ là câu hỏi: khi ta nói “tư duy của con người”, ý nghĩa của nó cần được hiểu như thế nào, trên cơ sở tiến hóa luận, hay phi tiến hóa luận?

  1. Tư duy tiến hóa

Các quan điểm không thừa nhận tiến hóa luận trong sinh học cũng như trong tâm lý học đương nhiên nói rằng con người biết tư duy ngay từ khởi điểm sáng tạo. Đây là quan điểm tôn giáo không chấp nhận tiến hóa luận của Darwin. Trong phần lớn các tông phái Phật giáo, tiến hóa luận của Darwin không hoàn toàn bị bác bỏ, nhưng cũng không hoàn toàn nhất trí. Bởi vì, trong vòng lưu chuyển sinh tử, qua nhiều chu kỳ thành–trụ–hoại–không của thế giới, con người cũng chỉ là một sinh vật trong vô số chủng loại sinh vật khác nhau được gọi chung là sattva: hữu tình, hay chúng sinh, với nhiều cấp độ khác nhau của tồn tại. Trong tồn tại này, nó có thể là con người, nhưng trong nhiều tồn tại khác, nó có thể là cầm thú, hoặc chư thiên. Chẳng hạn, trong cấp độ tồn tại của một hạng chúng sinh được gọi là Tam thập tam thiên (trāyastriṃśa) theo truyền thuyết khi vừa sinh thì chúng có ngay khả năng tư duy và đồng thời có luôn khả năng ngôn ngữ. Nhưng trong tồn tại của loài người, khả năng tư duy chỉ xuất hiện trong một giai đoạn nhất định, và trong một đời người cũng thế.

Nói rằng khả năng tư duy của con người chỉ xuất hiện trong một giai đoạn lịch sử tiến hóa nhất định, điều này có thể được cho là khiên cưỡng, do suy diễn từ kinh Tiểu duyên, hay Khởi thế nhân bản,[3] nói về lịch sử tiến hóa của xã hội loài người.

Kinh nói, khởi thủy, khi mới thành hình, cõi đất này tồn tại trong tối tăm, chưa có sinh vật nào, và mặt đất cũng chỉ được bao phủ bởi một lớp vị đất như váng sữa.[4] Sau đó, một số chúng sinh từ cõi Cực quang thiên (ābhāsvara), tuổi thọ hết, sinh mạng dứt, hóa sinh xuống đây, tự thân phát sáng, sống bằng hỷ lạc. Chúng hóa sinh trong trạng thái đột biến, bởi vì trên cõi đất này chưa có sinh vật nào. Một thời gian sau, chúng nếm vị đất và thân thể lớn dần và phát triển song song với sự phát triển của thế giới tự nhiên. Cho đến khi, mặt đất phủ bởi thảm thực vật, bấy giờ loài người đã có thân hình phân biệt nam nữ, và tính dục phát sinh. Từ đó phát triển dần, chúng sống tập quần và gặt hái thứ lúa tự nhiên không cần gieo trồng để làm thực phẩm. Chúng gặt hái ngày nào thì tiêu dùng trong ngày đó. Cho đến một lúc, chúng phát sinh ý thức tích lũy, thu hoạch một ngày mà có thể tiêu dùng trong nhiều ngày.

Đoạn Kinh mô tả ngắn gọn này hàm ngụ ý nghĩa tiến hóa; theo đó, chỉ khi con người sống tập quần, bấy giờ ý niệm tích lũy mới phát sinh. Để có thể tích lũy, nó cần có kỹ thuật để thu hoạch. Để có thể phát minh kỹ thuật, nó cần có khả năng tư duy. Tư duy để phát minh, nó cần có khả năng phán đoán tùy mức tích lũy kinh nghiệm trong quá khứ và dự phóng tương lai. Khả năng này cần có sự chú tâm vào mục đích hướng đến trong tương lai. Khả năng tư duy với sự chú tâm, tập trung ý thức vào một đối tượng cần đạt đến là hạt giống tư duy của con người, mà trong lịch sử tiến hóa, nó trở thành tư duy thiền định theo nghĩa phổ thông thuần phác nhất.

[1]Kośa viii. K. 1c & Bhāṣya: kuśalacittaikāgratā dhyānam; samādhisvabhāvatvāt, “tĩnh lự (dhyāna) là sự tập trung trên một điểm của thiện tâm, vì tự thể của nó là định (samādhi).”

[2] Câu-xá ii (Phân biệt Căn) tụng 24: 10 đại địa pháp (daśa mahābhūmikā dharmāḥ); Thành duy thức, tụng 9: 5 tâm sở biệt cảnh (pañca viniyatāḥ).

[3] Trường 6, T01n0001, tr. 37b28 tt; Trung 39, 674b16. Pāli, D.27 Aggaññasuttanta, PTS. iii. 85.

[4] Pāḷi, dẫn trên: rasapathavī udakasmiṃ samatani seyyathāpi nāma payaso, vị của đất tan trong nước như cháo sữa. Trung 39, dẫn trên, tr. 674b23: nước bao phủ mặt đất; gió thổi qua khối nước khiến nước kết tinh thành vị đất màu như váng sữa.

Mục lục

KHÁI THUYẾT. 11
 
THIỀN – ĐỊNH PHẬT GIÁO.. 11
 
Chương I TƯ DUY – THIỀN.. 13
 
Tư duy nhận thức. 13
Tư duy tiến hóa. 14
Tư duy xã hội 17
Chương II KHỞI NGUYÊN THIỀN PHẬT GIÁO.. 19
 
Tư duy thiền Phật giáo. 19
Bồ-tát học Thiền. 23
Chương III THIỀN VÀ YOGA.. 31
 
TỪ NGHĨA LUẬN.. 31
Thiền và Định. 31
Yoga. 34
YOGASŪTRA.. 38
Tác giả và niên đại 38
Ảnh hưởng Phật giáo. 41
Phân tích Nội dung. 45
III. HAṬHAYOGA.. 57
 
Yogācāra – Maitreyanātha. 57
Siddha – Yogi Nātha. 63
Prayoga – Haṭhayoga. 73
Kumbhaka – Thiền nín thở. 76
Khecarī-mudrā. 81
Chương IV THIỀN PHẬT GIÁO, ISLAM, THIÊN CHÚA GIÁO.. 85
 
THIỀN VÀ ISLAM.. 85
Islam – Hồi giáo Tây Vực. 85
Các vương quốc Ấn-Hy. 86
Đế chế Caliph Abbasid. 93
Al-Beruni 102
Sufi huyền bí 104
Cầu nguyện và tư duy. 111
Simnānī: ánh sáng thần bí 112
THIÊN CHÚA GIÁO.. 122
Cầu nguyện và niệm Chúa. 122
Các Giáo phụ Sa mạc. 124
Meister Eckhart và Phật giáo. 130
Giáo hội La-mã. 141
KẾT LUẬN.. 145
 
A-TÌ-ĐẠT-MA-CÂU-XÁ LUẬN
 
Thiên thứ bảy PHÂN BIỆT TRÍ 157
 
CHƯƠNG I: MƯỜI TRÍ 159
 
Tiết 1. NHẪN – TRÍ – KIẾN.. 159
 
Tiết 2. TỔNG LUẬN MƯỜI TRÍ 160
 
1.Thực thể mười trí 160
 
Hoạt dụng của mười trí 161
Ba trí 161
Bốn trí 161
Tha tâm trí 162
Tận trí – vô sanh trí 164
Quan hệ mười trí 166
Thể. 187
Tánh. 189
Địa. 189
Sở y. 190
Tiết 4. SỞ DUYÊN CỦA MƯỜI TRÍ 191
 
Trí sở duyên. 191
Pháp sở duyên. 192
Tiết 5. TRÍ TIỀM HÀNH.. 194
 
Tiết 6. GIAI VỊ TU TẬP MƯỜI TRÍ 195
 
Kiến đạo. 195
Đồng loại tu. 195
Thế tục trí 196
Tu đạo. 200
Hữu nhiễm – ly nhiễm.. 200
Hữu học. 202
Vô học. 204
Các phần vị khác. 204
Y địa tu. 206
CHƯƠNG II MƯỜI TÁM PHÁP BẤT CỘNG CỦA CHƯ PHẬT. 211
 
Tiết 1. MƯỜI LỰC.. 211
 
Thể mười lực. 211
Địa và thân sở y mười lực. 213
Ý lực Phật 214
Thân lực Phật 214
Tiết 2. BỐN VÔ ÚY.. 216
 
Tương quan Vô úy và Trí lực. 216
Ý nghĩa. 217
Tiết 3. BA NIỆM TRỤ.. 218
 
Tiết 4. ĐẠI BI 219
 
Thể đại bi 219
Sai biệt đại bi và bi 220
Tiết 5. PHẨM TÍNH PHỔ QUÁT VÀ CÁ BIỆT CỦA CHƯ PHẬT. 220
 
Phật bình đẳng pháp. 220
Phật viên đức. 221
Sai biệt công đức. 222
CHƯƠNG III PHÁP CỘNG THÔNG CỦA CHƯ PHẬT. 224
 
Thanh văn cộng thông. 224
Vô tránh. 224
Nguyện trí 226
Bốn Vô ngại giải 227
Y biên tế tĩnh lự và gia hành đắc. 231
Dị sanh cộng thông. 233
Sáu thông. 233
Ba minh. 239
Ba thị đạo. 240
Thần biến. 241
Biến hóa tâm.. 243
Đắc thần biến. 247
Thiên nhãn – nhĩ 247
Đắc thông trí 248
PHỤ LỤC I: PHẠN VĂN.. 250
 
PHỤ LỤC II: TẠNG VĂN.. 254
 
PHỤ LỤC III: HÁN VĂN.. 262
 
HUYỀN TRANG.. 262
CHÂN ĐẾ. 264
A-TÌ-ĐẠT-MA-CÂU-XÁ LUẬN
 
Thiên thứ tám PHÂN BIỆT ĐỊNH.. 267
 
CHƯƠNG I: TĨNH LỰ VÀ VÔ SẮC.. 269
 
Tiết 1. BỐN TĨNH LỰ.. 269
 
Danh nghĩa. 269
Đặc tính. 271
Tiết 2. BỐN VÔ SẮC.. 273
 
Tổng danh. 273
Siêu sắc tưởng. 273
Vô sắc không sắc. 274
Sắc tục sinh. 279
Biệt danh – Định danh. 280
Do gia hành. 280
Tưởng muội liệt 281
CHƯƠNG II: ĐẲNG CHÍ 282
 
Tiết 1. THỂ TÍNH ĐẲNG CHÍ 282
 
Tiết 2. CHỨC NĂNG CỦA TĨNH LỰ ĐẲNG CHÍ 283
 
Tĩnh lự tịnh. 283
Mười tám chi 283
Mười một chi 285
Hỷ và lạc. 285
Lạc và khinh an. 286
Năm chi thiền. 291
Nội đẳng tịnh. 292
Hỷ và hỷ thọ. 293
Tĩnh lự nhiễm.. 294
Tĩnh lự sinh đắc. 295
Sinh đắc chi 295
Biểu nghiệp thượng địa. 296
Tiết 3. HOẠCH ĐẮC ĐẲNG CHÍ 297
 
Nguyên nhân dẫn sinh đắc. 298
Nguồn gốc dẫn sinh đắc. 300
Từ vô lậu định. 300
Từ tịnh định. 301
Từ nhiễm định. 301
Bốn thuận phần. 303
Siêu đẳng chí 304
Tiết 4. Y – DUYÊN – ĐOẠN HOẶC.. 306
 
Sở y địa. 306
Thông tắc. 306
Biệt lệ. 306
Sở duyên. 306
Đoạn hoặc. 308
Cận phần định. 308
CHƯƠNG III: ĐẲNG TRÌ 311
 
Tiết 1. Chủng loại đẳng trì 311
 
Tầm – tứ. 311
Giải thoát môn. 311
Bốn tu định. 315
Tiết 2. CÁC PHẨM TÍNH Y CHỈ ĐẲNG TRÌ 317
 
Bốn vô lượng tâm.. 317
Thể tính. 317
Hành tướng. 318
Sở duyên. 319
Sở y. 320
Tám giải thoát 323
Tám thắng xứ. 328
Mười biến xứ. 329
Sở y – sinh khởi 330
Đẳng chí sở y. 330
Đẳng chí sinh khởi 331
CHƯƠNG KẾT. 333
 
Chánh pháp tồn tại 333
Kết nghĩa. 333
Hậu từ. 334
PHỤ LỤC I: PHẠN VĂN.. 335
 
PHỤ LỤC II: TẠNG VĂN.. 338
 
PHỤ LỤC III: HÁN VĂN.. 344
 
HUYỀN TRANG.. 344
CHÂN ĐẾ. 346
A-TÌ-ĐẠT-MA-CÂU-XÁ LUẬN
 
Thiên thứ chín PHÁ NGÃ LUẬN.. 349
 
PHẦM MỘT: TỔNG THUYẾT. 350
 
PHẦN HAI: PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM.. 352
 
PHÊ PHÁN ĐỘC TỬ BỘ.. 352
I.2. Phê phán. 352
 
I.2.1. Y lý phê phán. 352
 
I.2.(1). Phê phán thật-giả. 352
 
I.2.1(2) Phê phán sở y. 353
 
I.2.1(3) Phê phán năm tạng. 358
 
I.2.1(4) Phê phán thủ đắc. 359
 
I.2.1(5) Phê phán sở thức. 360
 
I.2.2. Dẫn giáo chứng. 361
 
I.2.2(1) Vô ngã. 361
 
I.2.2(2) Sở duyên. 361
 
I.2.2(3) Hai duyên. 362
 
I.2.2(4) Vô thường. 362
 
I.2.2(5) Sáu thức. 362
 
I.2.2 (7) Kiến xứ. 364
 
I.2.2(10) Ngã thể. 366
 
I.2.2(11) Thế-la. 366
 
I.2.2(12) Bà-đà-lê. 366
 
1.2.2(13) Tai hại chấp ngã. 367
 
I.3.1. Ký ức. 368
 
1.3.2. Gánh nặng. 370
 
1.3.3. Hóa sinh hữu tình. 371
 
1.3.4. Một Con Người 372
 
1.3.5. Vô ký vấn. 374
 
1.3.6. Lưu chuyển sinh tử. 381
 
1.3.7. Hồi tưởng. 383
 
PHÊ PHÁN VĂN PHÁP GIA.. 386
Quan hệ chủ từ & động từ. 386
III. PHÊ PHÁN THẮNG LUẬN.. 392
 
Kết hợp sai biệt 392
Ngã sở y. 393
Ngã & hành động. 395
Sở y của thiện ác. 398
TỤNG KẾT. 402
Thư mục. 403
 
Ngữ vựng. 404
 
Sách dẫn. 415

Sản phẩm đã xem

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
0 sản phẩm
0₫
Đóng