Duy Thức Thấy Thẳng Bản Tánh Của Tâm - Nguyễn Thế Đăng

Tình trạng: Còn hàng Thương hiệu: Khai Tâm
  • Hình thức bìa: Bìa mềm
  • Trọng lượng: 400
  • Số trang: 298
  • Tác giả: Nguyễn Thế Đăng
  • Khổ sách: 14.5 x 20.5 cm
  • Năm xuất bản: 2025
  • Nhà xuất bản: Tổng hợp Tp.HCM
Giá: 108,000₫ 128,000₫ -16%
Số lượng:
Chính sách bán hàng
Cam kết 100% chính hãng Cam kết 100% chính hãng
Miễn phí giao hàng từ 250k (nội thành HCM), và từ 500k (ngoại thành HCM và tỉnh) Miễn phí giao hàng từ 250k (nội thành HCM), và từ 500k (ngoại thành HCM và tỉnh)
Hỗ trợ từ thứ 2 đến thứ 7 (8h - 18h) Hỗ trợ từ thứ 2 đến thứ 7 (8h - 18h)
Thông tin thêm
Hoàn tiền
111%
nếu hàng giả Hoàn tiền 111% nếu hàng giả
Mở hộp
kiểm tra
nhận hàng Mở hộp kiểm tra nhận hàng
Đổi trả trong
7 ngày Đổi trả trong 7 ngày

THƯỜNG ĐƯỢC MUA CÙNG

Mô tả sản phẩm

Tất cả những gì hợp thành cuộc đời làm người của chúng ta, tất cả những kinh nghiệm quá khứ, hiện tại, tương lai đều nhờ thức và thông qua thức. Một trí nhớ, một kỷ niệm còn tồn tại vì nó còn được chứa giữ trong thức. Một tưởng tượng về tương lai sẽ như thế này sẽ như thế kia đều hiện hình trong thức. Và hiện tại, những gì chúng ta thấy nghe suy nghĩ, phân biệt... đều thông qua thức.

---

Thực chất của đời sống là gì? Chúng ta phải nhìn đời sống như thế nào cho đúng? Bởi vì nhìn sai thì khổ đau sẽ theo ngay lúc đó.

 

Nhìn đời sống theo ba tính chất đã quyết định số phận của con người, từ nhìn thấy sai đến nhìn thấy đúng, từ khổ đau đến hạnh phúc, từ cuộc sống thấp nhất đến cuộc sống cao rộng và an vui nhất.

 

Đây là vấn đề được nói đến nhiều trong hệ thống Duy Thức, như trong Kinh Lăng Già, Kinh Giải Thâm Mật cho đến các luận như Luận Du Già Sư Địa, Luận Thành Duy Thức …. Luận Đại Thừa Khởi Tín tuy không chia ra ba tính chất, nhưng cũng nói rất rõ về những điều này. Theo Duy Thức, chúng ta nhìn đời sống theo ba tính chất, kinh nghiệm đời sống theo ba tính chất và do đó sống trong ba tính chất đó.

 

1/ Biến kế sở chấp tánh: còn gọi là Phân biệt tánh, Vọng kế tự tánh, Vọng phân biệt tánh, Vọng tưởng tự tánh, Tự tánh giả lập (parikalpita-svabhava).

 

Thí dụ, vì một kinh nghiệm tiêu cực nào đó trong thời thơ ấu mà bây giờ tôi đã quên, tôi ghét màu đỏ. Trái lại có người rất thích nó. Thích hay ghét màu đỏ, đó là sự phân biệt chủ quan, sai lầm, giả lập, không khách quan. Sự phân biệt sai lầm, hư vọng và chấp chặt này nằm trong Biến kế sở chấp tánh. Suy rộng ra, một thế giới quan của một người bình thường chưa thấy cái chân thật cũng là Biến kế sở chấp tánh.

 

Luận Thành Duy Thức nói về Biến kế sở chấp tánh:

20. Do các thứ vọng tưởng phân biệt

Mọi vật được tưởng tượng ra

Những cái được hình thành do vọng tưởng này

Đều không có tự tánh.

 

King Lăng Già (bản dịch của DT Suzuki, 1959) nói:

Đại Huệ! Biến kế sở chấp tánh (vọng tưởng tự tánh) sanh khởi từ tướng (nimitta). Đại Huệ, nó sanh khởi từ tướng như thế nào? Trong duyên khởi tự tánh, những cái có thực xuất hiện theo nhiều cách, như có các tướng, các dấu hiệu, các hình dáng… Khi các đối vật, hình tướng và dấu hiệu này được bám chấp cho là thật, thì sự gắn dính này xảy ra theo hai cách. Các bậc giác ngộ tuyên bố cốt lõi của biến kế sở chấp là bám luyến vào những tên gọi và những đối vật. Bám luyến những đối vật nghĩa là dính chặt với vật bên trong và vật bên ngoài (như là có thật). Bám luyến những tên gọi là nhận thấy trong những đối vật bên trong và bên ngoài có những đặc tính của cá thể và tổng thể và xem chúng đích thực thuộc về những đối vật.”

 

Cái không có thật mà cho là có thật, cho là có những tính chất bất biến thế này thế nọ, đó là vọng tưởng, vọng phân biệt, giả lập, biến kế. Rồi theo nó mà bám chấp, bám luyến, gắn bó, dính chặt. Đó là những đều chúng ta có thể hiểu về Biến kế sở chấp.

 

Nhưng Biến kế sở chấp này có thể càng ngày càng lớn, càng nặng nề, vì được tích tập thêm, luôn tập thêm nhờ sự liên tục của thức. Một dấu vết nào in lên tâm thức, được lập đi lập lại, thì ngày càng sâu càng khó xóa. Kết quả là tâm thức càng ngày càng bị điều kiện hóa, bị bó hẹp, giam nhốt trong những kiến chấp, thành kiến, phân biệt cực đoan, thậm chí đưa đến cái xấu ác – nhưng tất cả đều là vọng tưởng giả lập. Nhưng ngược lại, Biến kế sở chấp này cũng có thể càng ngày càng nhẹ bớt, những hàng rào trói buộc của nó càng lỏng thưa, đến độ chúng ta có thể thoát khỏi nó, tự do khỏi nó. Với Phật giáo, giải thoát không phải là đi đâu cả, mà ra khỏi những hàng rào trói buộc trong tâm, trong đó Biến kế sở chấp là hàng rào thứ nhất và thô nặng nhất.

 

Màu đỏ mà tôi thương hay ghét như đã nói trên đâu phải là sự thật tuyệt đối (chân đế), nó chỉ là sự thật tương đối (tục đế). Con chó nằm dưới chân tôi đây chỉ thấy hai màu đen trắng, làm gì có màu đỏ. Tôi thấy màu đỏ là do hệ thống mắt và hệ thần kinh được tổ chức theo một cách thuộc về loài người của tôi thôi. Ngày nay các nhà khoa học đã nói rằng trong thế giới, các nguyên tử không làm gì có màu sắc, hương vị.. Hơn nữa, tôi thấy cái gì là do các photon đi đến mắt, tác động vào hệ thần kinh của tôi, photon có thể nhiều hoặc ít, bước sóng có thể khác nhau, nhưng photon làm gì có màu. Thế thì màu đỏ tôi thích hay ghét là “vọng thấy biệt nghiệp” của tôi, và thấy màu đỏ chung như tất cả mọi người là “vọng thấy đồng phận” loài người của tôi (theo Kinh Lăng Nghiêm). Dĩ nhiên cả hai đều không phải là cái thấy đúng, cái thấy tuyệt đối, mà chỉ là cái thấy tương đối, tạm thời, giả lập, thuộc về nghiệp, thuộc về thế giới sanh tử. Cũng chính vì cái thấy này không thật, tương đối, giả lập, như huyễn mà chúng ta mới có cơ may thoát khỏi sanh tử, vì sanh tử cũng không thật, tương đối, giả lập, như huyễn vì sanh tử do cái vọng thấy mà tạo ra. Nếu sanh tử mà thật một cách tuyệt đối thì làm sao phá vỡ nó để giải thoát?

 

Nhưng nhìn toàn bộ con đường, chúng ta cũng phải cám ơn cái vọng thấy này, cái Biến kế sở chấp tánh này: nó đã gây cho chúng ta khổ đau, để nhờ đó mà tìm cách giải thoát khỏi nó. Nếu không, chúng ta cũng chỉ là đất đá vô tri.

 

Trong kinh luận Đại thừa, có nhiều ví dụ để chỉ tính Biến kế sở chấp này: như mộng huyễn bọt ảnh, như sương cũng như chớp, như hoa đốm giữa hư không, mặt trăng thứ hai, mắt nhặm thấy tóc rủ trước mặt, đi dưới thuyền mà cho là bờ chạy, như lông rùa sừng thỏ, như dợn nắng trên sa mạc mà tưởng là nước…

 

 

2/ Y tha khởi tánh: (Paratantra-svabhava), còn gọi là Duyên khởi tánh, Tương thuộc tánh. Y tha khởi: nương vào cái khác mà khởi sanh khởi. Suzuki dịch Y tha khởi tánh là cái biết ở phương diện tương đối (paratantra). Đây là tính chất duyên sanh tương thuộc của hiện hữu.

 

 Luận Thành Duy Thức nói:

21. Tự tánh y tha khởi

Do phân biệt các duyên mà sanh

Viên thành thật nơi đó

Thường xa lìa tánh Biến kế trước.

 

Kinh Lăng Già nói: “Y tha khởi tánh sanh khởi từ sự phân chia của chủ thể và đối tượng”.

Y tha khởi tánh này có hai phần:

 

Phần nhiễm: là “do phân biệt các duyên mà sanh”, “sanh khởi từ sự phân chia của chủ thể và đối tượng”. Chúng ta chú ý chữ sanh và sanh khởi này. Đối với Phật giáo cái thấy có sanh, có sanh khởi thì chưa hoàn toàn là thật, còn vô minh. Trạng thái hết vô minh để giải thoát được gọi là Vô sanh pháp nhẫn. Do đó trong phần Ba vô tánh của Duy thức (tướng vô tánh đối lại với biến kế sở chấp tánh, sanh vô tánh đối lại với y tha khởi tánh, và thắng nghĩa vô tánh đối lại viên thành thật tánh) để đưa ba tính chất này về thực tại tối hậu là tánh Không, Y tha khởi tánh được chuyển hóa thành “ sanh vô tánh”: tất cả các pháp đều vô sanh.

 

Phần tịnh: tức là “ở nơi y tha khởi này” mà không còn những phân biệt vi tế khiến thấy có sanh, thì đây là tính chất thanh tịnh vô lậu của Y tha khởi. Đây cũng chính là Viên thành thật tánh.

Một thí dụ: khi không còn thấy hoa đốm giữa hư không, thì chỗ nào trước kia thấy hoa đốm, bây giờ thấy là hư không, là không gian của bầu trời.

 

 

3/ Viên thành thật tánh: (Parinispana-svabhava), còn gọi là Viên thành tự tánh, Đệ nhất nghĩa đế thể tánh, Tự tánh tuyệt đối.

 

Thành Duy Thức nói:

21 Viên thành thật nơi đó (nơi y tha khởi)

Thường xa lìa biến kế trước

22 Nên nó và y tha

Không khác không chẳng khác

Như tánh vô thường không khác không chẳng khác với các pháp vô thường

Thấy tánh Viên thành này mới thấy tánh Duyên khởi kia.

23 Dựa vào ba tánh này

Lập ba vô tánh kia

Nên Phật mật ý nói

Tất cả pháp vô tánh (không có tự tánh, là tánh Không).

24 Một là tướng vô tánh

Hai là sanh vô tánh

Ba, do xa lìa cái trước

Tánh chấp lấy ngã pháp.

25 Đây là sự thật tối hậu (chân lý tuyệt đối) của tất cả các pháp

Cũng tức là Chân Như (Bhutatathata)

Bởi vì nó không biến đổi, tánh thường như vậy

Đây là thực tánh của Duy Thức.

 

Kinh Giải Thâm mật nói: “Viên thành thật tánh là Chân Như bình đẳng của tất cả các pháp”.

 

Kinhh Lăng Già nói: “Viên thành thật tánh được chứng ngộ khi người ta xua tan những ý niệm phân biệt về hình tướng, tên gọi, đặc tính và sự chấp thật. Đó là sự chứng ngộ bên trong bằng trí huệ bậc thánh. Viên thành thật tánh này là thể tánh của Như Lai tạng”.

 

Như vậy, Viên thành thật tánh là Chân Như, tánh Không, Như Lai tạng tánh, Phật tánh, Pháp thân… Theo quan điểm Đại thừa, cái này vốn có sẵn nơi mỗi chúng sanh. Đó cũng là quan điểm của Kim Cương thừa: “Bản tánh giác ngộ của chúng sanh, ý niệm này là một điều rất quan trọng chung cho Du già hành tông (Duy thức tông) và Mật tông Tây Tạng, nhấn mạnh vào bản tánh giác ngộ của con người. Các hệ phái Du già hành tông và Mật tông đều nhấn mạnh sự thực là mỗi một con người đều vốn đã giác ngộ. Vô minh và mê muội chỉ là yếu tố phụ thuộc hoặc ngoại sanh tạm thời, tự trong bản chất con người chẳng có chút nào yếu tố tiêu cực đó…. Bản tánh giác ngộ sáng suốt ấy trong kinh văn Du già hành tông gọi là Như Lai tạng. Nói chung, Như Lai tạng được hiểu là Phật tánh” (Traleg Rinpoche, Ảnh hưởng của Du già hành tông trong Mật tông Tây Tạng, trang 166, trong Du già Hành Tông, Thích Nhuận Châu soạn dịch, Văn Thành xuất bản, 2005).

 

Duy thức tông căn cứ trên quan điểm chung của Đại thừa và Kim Cương thừa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh hay Như Lai tạng tánh hay Viên thành thật tánh vốn thanh tịnh từ vô thủy. Viên thành thật tánh là Chơn Như, là thực tại bất sanh bất diệt, bất lai bất khứ, bất nhất bất dị… làm nền tảng vô hạn cho tất cả mọi sanh diệt, lai khứ, nhất dị… Viên thành thật tánh này là thực tánh của Duy thức, nó là nền tảng, con đường và quả của Duy thức tông.

 

Viên thành thật tánh là thực tại không sanh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm, trên đó Y tha khởi tánh được thiết lập và trên nữa là Biến kế sở chấp. Lấy một thí dụ của Đại thừa, Viên thành thật tánh là đại dương thanh tịnh, trong lặng, vô nhiễm. Y tha khởi tánh là những làn sóng do những duyên, những hoàn cảnh mà sanh. Còn Biến kế sở chấp là lầm cho sóng là dữ là hiền, là xanh là trắng, là thuận hay nghịch với ta… Nếu ở trong Viên thành thật tánh, thì tất cả sóng đều là nước, đều là đại dương. Như thế sóng có sanh mà thật không sanh, vì tất cả là nước, tất cả là Viên thành thật tánh. Như vậy tất cả các hiện tượng, tất cả các pháp đều chỉ có một vị là nước đại dương, đều chỉ có một tướng là đại dương.

 

Một thí dụ khác: sợi dây mà thấy lầm là con rắn. Sự thấy lầm này là Biến kế sở chấp. Hết thấy lầm thì sợi dây là sợi dây do duyên sanh, do nhiều thứ hợp lại mà thành. Đây là Y tha khởi tánh, nhưng cũng chỉ mới là chân lý tương đối. Với cái thấy rốt ráo thì sợi dây là Chân Như. Y tha khởi tánh chính là Viên thành thật tánh. Chân lý tương đối chính là chân lý tuyệt đối, tối hậu. Sắc tức là Không. Sanh tử tức Niết bàn. Phiền não tức Bồ đề.

 

Như vậy, để hết vô minh, chúng ta phải chuyển hóa tâm thức, phải chuyển y (asrayaparavrtti) hay chuyển thức thành trí. Nghĩa là chuyển Biến kế và Y tha thành Viên thành thật.

Sản phẩm đã xem

0 sản phẩm
0₫
Xem chi tiết
0 sản phẩm
0₫
Đóng