Hotline: 028.7301.9778 (8h - 19h, thứ 2 đến thứ 7)
Bạn đang tìm sản phẩm gì?
Đăng nhập tài khoản
Nhập email và mật khẩu của bạn:
Khách hàng mới? Tạo tài khoản
Quên mật khẩu?
Khôi phục mật khẩu
Nhập email của bạn:
Bạn đã nhớ mật khẩu?
Giỏ hàng
| TỔNG TIỀN: | 0₫ |
| Xem giỏ hàng | |
Danh mục sản phẩm
- Sách Khai Tâm phát hành
- Sách mới tuyển chọn
-
Sách theo tác giả
- Tâm linh - Tôn giáo
- Triết học
- Văn học
- Kinh tế - Chính trị
- Lịch sử
- Tâm lý - Nghệ thuật sống
- Văn hóa - Nghệ thuật
- Khoa học
- Y học - Thực dưỡng
- Địa lý - Phong thủy
- Giáo dục - Gia đình
- Kỹ năng thường thức
- Văn phòng phẩm
- Văn hóa phẩm tuyển chọn
- Quà tặng tinh thần
- Sách cũ - Sách lỗi
- Ẩm thực
- Manga - Comic
- Chăm sóc sức khỏe
- Phóng sự - Ký sự - Du ký - Tùy bút
- Xem thêm
- Quay về
- Xem tất cả "Sách theo tác giả"
- -George Ohsawa
- -Krishnamurti
- -Osho
- -Kahlil Gibran
- -Thích Nhất Hạnh
- -Thích Tuệ Sỹ
- -Lê Mạnh Thát
- -Thích Tuyên Hóa
- -Đại sư Tinh Vân
- -Bùi Giáng
- -Phạm Công Thiện
- -Kim Định
- -Nguyễn Duy Cần
- -Nguyễn Hiến Lê
- -Vương Hồng Sển
- -Sơn Nam
- -Hồ Biểu Chánh
- -Toan Ánh
- -Nguyên Phong
- -Nguyễn Tường Bách
- -Đỗ Hồng Ngọc
- -Trịnh Xuân Thuận
- -Tô Hoài
- -Nguyễn Nhật Ánh
- Quay về
- Xem tất cả "Kinh tế - Chính trị"
- -Quản trị & Lãnh đạo
- -Tài chính & Kế toán
- -Tiếp thị & Bán hàng
- -Kỹ năng làm việc
- -Thành tựu kinh doanh
- -Nghiên cứu & Phân tích
- Quay về
- Xem tất cả "Văn phòng phẩm"
- -Bút viết
- -Chuốt chì
- -Bút chì
- -Keo dán
- -Gôm tẩy
- -Bút sáp màu
- -Bút lông màu
- -Văn phòng phẩm
- -Ống cắm bút
- -Dụng cụ văn phòng
- -Dụng cụ học tập
- -Tập-Sổ
- -Túi xách
-
Đảm bảo chất lượng -
Miễn phí vận chuyển -
Mở hộp kiểm tra nhận hàng
Bạn đang tìm sản phẩm gì?
- Trang chủ
- Sách theo tác giả
- Hương Nước Hồn Quê
-20%
OFF
OFF
Hương Nước Hồn Quê
Tình trạng: Hết hàng Thương hiệu: Khai Tâm- Tác giả: Toan Ánh
- Nhà xuất bản: NXB Trẻ
- Trọng lượng: 520
Chính sách bán hàng
Cam kết 100% chính hãng
Miễn phí giao hàng từ 250k (nội thành HCM), và từ 500k (ngoại thành HCM và tỉnh)
Hỗ trợ từ thứ 2 đến thứ 7 (8h - 18h)
Thông tin thêm
Hoàn tiền
111%
nếu hàng giả
Mở hộp
kiểm tra
nhận hàng
Đổi trả trong
7 ngày
THƯỜNG ĐƯỢC MUA CÙNG
Mô tả sản phẩm
Theo tin từ gia đình, nhà văn / nhà văn hoá Toan Ánh đã từ trần vào khoảng 23 giờ 50, ngày 14/5 (tức 20/4 Âm lịch) năm 2009, hưởng thọ 95 tuổi. Trong suốt thế kỷ 20, cùng với Sơn Nam (chuyên về phong tục Nam bộ), Nguyễn Văn Xuân (phong tục Trung bộ), Toan Ánh được xem là nhà phong tục học Bắc bộ tài hoa. Lĩnh vực nghiên cứu của ông trải rộng từ phong tục, tín ngưỡng và nhạc cổ Việt Nam.
Đã hết “phong lưu đồng ruộng”
Toan Ánh tên thật là Nguyễn Văn Toán, sinh năm 1914, thuở nhỏ đi học tại quê nhà và học ở Hà Nội. Ông làm thơ và viết văn từ rất sớm, năm 1934, ông đã có thơ đăng báo Loa, ký tên là Đào Vân; đến 70 tuổi, ông vẫn còn làm thơ tình. Truyện ngắn “Chiếc nhẫn quý” in trên Tiểu thuyết thứ Bảy năm 1935. Trước năm 1945, ông từng cộng tác với nhiều báo và tạp chí như Tao đàn, Trung Bắc Chủ nhật, Bạn dân, Tiểu thuyết thứ Bảy, Bạn đường... ở Hà Nội; và Tân dân, Bách khoa, Lẽ sống... ở Sài Gòn. Những tác phẩm đầu tiên của ông phải kể đến là Bước đầu (Anh Thịnh xuất bản, 1943, Hà Nội), Phong lưu đồng ruộng (Anh Hoa xuất bản, 1944, Hà Nội)...
Đã nhiều lần, và ngay cả trong hồi ký, ông tự giới thiệu về mình như sau:
“Tôi quê ở làng Thị Cầu, huyện Võ Giàng, Bắc Ninh - một vùng đất quan họ nổi tiếng. Vì vậy, bài biên khảo đầu tiên của tôi viết về tục hát quan họ ở vùng quê tôi, bài này đăng trên báo TRUNG BẮC TÂN VĂN năm 1937, dưới bút danh Minh Trúc. Hát quan họ là một giọng hát đặc biệt, không phải của toàn miền Bắc mà chỉ của mấy huyện Tiên Du, Võ Giàng và Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và của mấy xã thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, như: Mật Ninh, Nội Ninh, Sen Hồ. Thời trẻ, tôi nhiều lần đi theo bọn hát quan họ nhưng không hề cất tiếng hát lần nào. Thú thật là tôi không có giọng để có thể hát được quan họ. Tuy vậy, tôi tìm hiểu, ghi chép kỹ và sau này đã viết các cuốn CẦM CA VIỆT NAM, HỘI HÈ ĐÌNH ĐÁM.”
Theo thống kê chưa đầy đủ, từ khi lập quốc cho tới cuối thế kỷ 19, vùng đất Bắc Ninh (đời Hồng Đức, triều Lê gọi là Kinh Bắc) đã có tới 17 trạng nguyên, 622 tiến sĩ. Toan Ánh sinh ra từ truyền thống hiếu học này, nên thừa hưởng được sự bài bản, bác học và cả sự tinh tế, thanh lịch trong ứng xử, nghiên cứu. Đương thời, ông luôn đau đáu về chuyện xưa, nếp cũ của văn hoá và phong tục Bắc bộ. Cách viết của ông vốn trong sáng, gần gũi; không giống bậc tiền bối Phan Kế Bính (1875–1921) khi viết Việt Nam phong tục (1915); và càng khác với văn phong của nhà văn Nguyễn Tuân (1910–1987) khi viết tùy bút. Ông đúng là kẻ “phong lưu đồng ruộng”, bởi từ khi còn rất trẻ cho lúc rời xa cõi thế, quan điểm, thẩm mỹ và chí hướng nghiên cứu, biên khảo của ông vẫn vậy. Ông đi ra từ hồn quê gốc rạ, và dùng học thuật để nhìn về hồn quê gốc rạ.
Năm 1939, ông lập gia đình, vợ ít hơn 9 tuổi, người cùng quê. Họ sống với nhau được 30 năm, có 11 người con, khi ông 55 tuổi (1969) thì người vợ yêu quý qua đời, lúc ấy bà mới 46 tuổi. Từ đó tới năm 2009, đã 40 năm qua, ông sống đời goá bụa...
Năm 1954, ông di cư vào Nam; năm 1955, ông giữ chức quản thủ thư viện Bộ Thông tin ở Sài Gòn cho tới khi nghỉ hưu. Trước 1975, có lúc ông được mời dạy về văn hoá, phong tục tại Đại học Vạn Hạnh (Sài Gòn) và Đại học Văn khoa Huế.
Toan Ánh uyên thâm Nho học và vững vàng về tiếng Pháp, nên khi nghiên cứu, biên khảo, ông đều vận dụng linh hoạt hai vốn kiến văn này, dùng phương pháp phân tích của phương Tây để tìm hiểu văn minh của nước nhà. Ông nổi tiếng nhất với các bộ sách về nếp cũ, người xưa (11 cuốn) như Nếp xưa (Xã hội ấn quán, 1693), Nếp cũ – con người Việt Nam (Nam Chi tùng thư, 1966, Sài Gòn), Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam, 2 tập (Nam Chi tùng thư, 1967-68, Sài Gòn), Nếp cũ – làng xóm Việt Nam (Nam Chi tùng thư, 1968, Sài Gòn)... Đối với nhiều nhà nghiên cứu quốc tế, hay những sinh viên nước ngoài đến học, làm việc về văn hoá tại Việt Nam, các cuốn sách của Toan Ánh là một lựa chọn, vì sự minh bạch, gần gũi. Ngoài ra, bộ Việt Nam chí lược (gồm 5 cuốn) cũng rất có giá trị về nghiên cứu, sưu khảo; những cuốn sách khác như Cầm ca Việt Nam, Hồn muôn năm cũ, Trong họ ngoài làng, Ta về ta tắm ao ta... cũng rất lý thú khi đọc.
Trong mỗi tác phẩm của ông, cách đặt vấn đề nhất quán, hành văn dung dị, nhưng cách tiếp cận thì khá linh hoạt. Năm 1957, ông viết Trong lũy tre xanh để phê phán thói hư tật xấu ở làng; ngay năm sau, ông tái bản Phong lưu đồng ruộng để ngợi ca văn minh thôn xóm. Hay như bộ Những truyện ăn trộm và Nghệ thuật bắt trộm cũng đã là một sự “thách đố” về suy luận của người đọc. Năm 1999, ông cho xuất bản cuốn Hương nước hồn quê, cắt nghĩa ca dao bằng cách phân tích các câu chuyện tình yêu nổi tiếng trong lịch sử... Nói chung, để biết thế nào là phong lưu và văn minh đồng ruộng; để biết thế nào là hội hè đình đám, nếp cũ, tục xưa; để biết câu ca điệu lý, giọng quan họ, các nhạc cụ cổ truyền và phong cách diễn xướng... của các đồng quê Bắc bộ, thì không thể nào bỏ qua các sách của Toan Ánh. Qua hàng ngàn trang sách, ông cũng đã bày tỏ lòng tự tôn về một vùng đất, về một dân tộc có truyền thống về văn hoá, nếp sống văn minh, và vẻ đẹp của tinh thần.
Tháng 5/2004, NXB Trẻ đã ký Hợp đồng nhượng quyền có thời hạn để họ độc quyền xuất bản trên toàn quốc Toan Ánh toàn tập (gồm 124 tác phẩm đã in và chưa in) trong thời hạn 10 năm (2004-2015).
Đã hết “phong lưu đồng ruộng”
Toan Ánh tên thật là Nguyễn Văn Toán, sinh năm 1914, thuở nhỏ đi học tại quê nhà và học ở Hà Nội. Ông làm thơ và viết văn từ rất sớm, năm 1934, ông đã có thơ đăng báo Loa, ký tên là Đào Vân; đến 70 tuổi, ông vẫn còn làm thơ tình. Truyện ngắn “Chiếc nhẫn quý” in trên Tiểu thuyết thứ Bảy năm 1935. Trước năm 1945, ông từng cộng tác với nhiều báo và tạp chí như Tao đàn, Trung Bắc Chủ nhật, Bạn dân, Tiểu thuyết thứ Bảy, Bạn đường... ở Hà Nội; và Tân dân, Bách khoa, Lẽ sống... ở Sài Gòn. Những tác phẩm đầu tiên của ông phải kể đến là Bước đầu (Anh Thịnh xuất bản, 1943, Hà Nội), Phong lưu đồng ruộng (Anh Hoa xuất bản, 1944, Hà Nội)...
Đã nhiều lần, và ngay cả trong hồi ký, ông tự giới thiệu về mình như sau:
“Tôi quê ở làng Thị Cầu, huyện Võ Giàng, Bắc Ninh - một vùng đất quan họ nổi tiếng. Vì vậy, bài biên khảo đầu tiên của tôi viết về tục hát quan họ ở vùng quê tôi, bài này đăng trên báo TRUNG BẮC TÂN VĂN năm 1937, dưới bút danh Minh Trúc. Hát quan họ là một giọng hát đặc biệt, không phải của toàn miền Bắc mà chỉ của mấy huyện Tiên Du, Võ Giàng và Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và của mấy xã thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, như: Mật Ninh, Nội Ninh, Sen Hồ. Thời trẻ, tôi nhiều lần đi theo bọn hát quan họ nhưng không hề cất tiếng hát lần nào. Thú thật là tôi không có giọng để có thể hát được quan họ. Tuy vậy, tôi tìm hiểu, ghi chép kỹ và sau này đã viết các cuốn CẦM CA VIỆT NAM, HỘI HÈ ĐÌNH ĐÁM.”
Theo thống kê chưa đầy đủ, từ khi lập quốc cho tới cuối thế kỷ 19, vùng đất Bắc Ninh (đời Hồng Đức, triều Lê gọi là Kinh Bắc) đã có tới 17 trạng nguyên, 622 tiến sĩ. Toan Ánh sinh ra từ truyền thống hiếu học này, nên thừa hưởng được sự bài bản, bác học và cả sự tinh tế, thanh lịch trong ứng xử, nghiên cứu. Đương thời, ông luôn đau đáu về chuyện xưa, nếp cũ của văn hoá và phong tục Bắc bộ. Cách viết của ông vốn trong sáng, gần gũi; không giống bậc tiền bối Phan Kế Bính (1875–1921) khi viết Việt Nam phong tục (1915); và càng khác với văn phong của nhà văn Nguyễn Tuân (1910–1987) khi viết tùy bút. Ông đúng là kẻ “phong lưu đồng ruộng”, bởi từ khi còn rất trẻ cho lúc rời xa cõi thế, quan điểm, thẩm mỹ và chí hướng nghiên cứu, biên khảo của ông vẫn vậy. Ông đi ra từ hồn quê gốc rạ, và dùng học thuật để nhìn về hồn quê gốc rạ.
Và về với “hương nước hồn quê”
Năm 1939, ông lập gia đình, vợ ít hơn 9 tuổi, người cùng quê. Họ sống với nhau được 30 năm, có 11 người con, khi ông 55 tuổi (1969) thì người vợ yêu quý qua đời, lúc ấy bà mới 46 tuổi. Từ đó tới năm 2009, đã 40 năm qua, ông sống đời goá bụa...
Năm 1954, ông di cư vào Nam; năm 1955, ông giữ chức quản thủ thư viện Bộ Thông tin ở Sài Gòn cho tới khi nghỉ hưu. Trước 1975, có lúc ông được mời dạy về văn hoá, phong tục tại Đại học Vạn Hạnh (Sài Gòn) và Đại học Văn khoa Huế.
Toan Ánh uyên thâm Nho học và vững vàng về tiếng Pháp, nên khi nghiên cứu, biên khảo, ông đều vận dụng linh hoạt hai vốn kiến văn này, dùng phương pháp phân tích của phương Tây để tìm hiểu văn minh của nước nhà. Ông nổi tiếng nhất với các bộ sách về nếp cũ, người xưa (11 cuốn) như Nếp xưa (Xã hội ấn quán, 1693), Nếp cũ – con người Việt Nam (Nam Chi tùng thư, 1966, Sài Gòn), Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam, 2 tập (Nam Chi tùng thư, 1967-68, Sài Gòn), Nếp cũ – làng xóm Việt Nam (Nam Chi tùng thư, 1968, Sài Gòn)... Đối với nhiều nhà nghiên cứu quốc tế, hay những sinh viên nước ngoài đến học, làm việc về văn hoá tại Việt Nam, các cuốn sách của Toan Ánh là một lựa chọn, vì sự minh bạch, gần gũi. Ngoài ra, bộ Việt Nam chí lược (gồm 5 cuốn) cũng rất có giá trị về nghiên cứu, sưu khảo; những cuốn sách khác như Cầm ca Việt Nam, Hồn muôn năm cũ, Trong họ ngoài làng, Ta về ta tắm ao ta... cũng rất lý thú khi đọc.
Trong mỗi tác phẩm của ông, cách đặt vấn đề nhất quán, hành văn dung dị, nhưng cách tiếp cận thì khá linh hoạt. Năm 1957, ông viết Trong lũy tre xanh để phê phán thói hư tật xấu ở làng; ngay năm sau, ông tái bản Phong lưu đồng ruộng để ngợi ca văn minh thôn xóm. Hay như bộ Những truyện ăn trộm và Nghệ thuật bắt trộm cũng đã là một sự “thách đố” về suy luận của người đọc. Năm 1999, ông cho xuất bản cuốn Hương nước hồn quê, cắt nghĩa ca dao bằng cách phân tích các câu chuyện tình yêu nổi tiếng trong lịch sử... Nói chung, để biết thế nào là phong lưu và văn minh đồng ruộng; để biết thế nào là hội hè đình đám, nếp cũ, tục xưa; để biết câu ca điệu lý, giọng quan họ, các nhạc cụ cổ truyền và phong cách diễn xướng... của các đồng quê Bắc bộ, thì không thể nào bỏ qua các sách của Toan Ánh. Qua hàng ngàn trang sách, ông cũng đã bày tỏ lòng tự tôn về một vùng đất, về một dân tộc có truyền thống về văn hoá, nếp sống văn minh, và vẻ đẹp của tinh thần.
Tháng 5/2004, NXB Trẻ đã ký Hợp đồng nhượng quyền có thời hạn để họ độc quyền xuất bản trên toàn quốc Toan Ánh toàn tập (gồm 124 tác phẩm đã in và chưa in) trong thời hạn 10 năm (2004-2015).
- Lý Đợi
tienve.org
tienve.org
Lời tác giả

Tục ngữ, ca dao là cả một kho văn chương của đất nước, lời văn luôn sáng sủa, bình dị lại bao hàm rất nhiều ý nghĩa về cuộc sống vật chất cũng như về nếp sống tinh thần của nhân dân ta.
Và chính tục ngữ ca dao cũng đã phản ảnh một cách trung thực hoàn cảnh nếp sống của từng địa phương, qua từng thời đại. Có khi có những sự kiện đã là nguồn gốc của một số ca dao tục ngữ, đánh dấu cho những sự việc đã xảy ra và đã nhắc lại hiện tình xã hội song song với sự việc được nói lên. Trong những trường hợp này nhiều khi còn có những bài thơ bình dân góp phần khiến sự ghi nhận càng chính xác.
Nghiên cứu hoàn cảnh xã hội mỗi thời đại của mỗi dân tộc, ngoài việc căn cứ vào lịch sử, vào phong tục, cũng cần tìm hiểu kỹ lưỡng tục ngữ ca dao và những bài thơ bình dân, chính những áng văn thơ này mới nói nhiều cho ai muốn nghe và muốn hiểu biết.
Dân tộc ta có cả một kho tục ngữ ca dao phong phú, bên những bài thơ bình dân dồi dào, có những câu, những bài cho toàn quốc, có những câu khác, bài khác lại thuộc riêng về từng địa phương, Bắc, Trung, Nam đều đủ.
Ca dao tục ngữ, cũng như những bài thơ bình dân, lời lẽ sáng sủa bình dị nhưng không kém văn chương, lại giàu nhạc điệu. Trong những buổi hát hội ngày Xuân, hát quan họ, hát ví, hát đò đưa, hát cò lả, trong những khi hát đối đáp qua những câu hát dặm, những câu hò giã gạo v.v..., những câu ca dao thường được dùng để nam nữ ca hò với nhau và nhiều khi có những câu ca dao đã ra đời từ những cuộc hò hát này.
Văn hóa bao gồm cả văn chương, trong văn chương có văn chương bình dân. Nói đến văn chương bình dân là nói đến tục ngữ ca dao với những bài thơ truyền khẩu bình dân, tức là nhắc tới mùi hương tinh túy, đến những bông hoa thanh khiết tượng trưng cho tinh thần đất nước và hương vị quê hương.
Hương nước hồn quê, cố gắng trình bày những điều biết về ca dao tục ngữ và thơ bình dân, mong mỏi sự hiểu biết hẹp hòi của mình giúp ích được phần nào trong việc duy trì những áng văn chương, nghĩ như vậy cũng là góp phần vào việc phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Toan Ánh
Mục Lục
Cùng bạn đọc
Phần thứ nhất
Gương Xưa Tích Cũ
Cây đa bến cộ
Con đò Thủ Thiêm
Chợ chờ, bến lo
Đá Vọng Phu
Gương tiết phụ
Chăn trâu
Cắt cỏ
Vượt vũ môn
Phần thứ hai
Trong Nếp Sống
Cái xấu của phái đẹp
Cu kêu báo Tết
Hát Trống Quân với câu ca tháng tám
Quý ông không đẹp lắm
Cả sông đông chợ
Cờ bạc canh đỏ canh đen
Tết với xuân
Hội hè đình đám
Con gái mà ghẹo con trai
Hôn nhân dị chủng
Phần thứ ba
Ca dao tục ngữ theo địa phương
Ca dao tục ngữ Sài Gòn
Ca dao Châu Đốc
Ca dao Bình Định
Ca dao Huế và Thừa Thiên
Ca dao Kinh Bắc
Ca dao Hà Nội
Tinh thần tục ngữ ca dao miền Bắc
Thưởng thức hương trà
Tục ăn trầu
Phần thứ nhất
Gương Xưa Tích Cũ
Cây đa bến cộ
Con đò Thủ Thiêm
Chợ chờ, bến lo
Đá Vọng Phu
Gương tiết phụ
Chăn trâu
Cắt cỏ
Vượt vũ môn
Phần thứ hai
Trong Nếp Sống
Cái xấu của phái đẹp
Cu kêu báo Tết
Hát Trống Quân với câu ca tháng tám
Quý ông không đẹp lắm
Cả sông đông chợ
Cờ bạc canh đỏ canh đen
Tết với xuân
Hội hè đình đám
Con gái mà ghẹo con trai
Hôn nhân dị chủng
Phần thứ ba
Ca dao tục ngữ theo địa phương
Ca dao tục ngữ Sài Gòn
Ca dao Châu Đốc
Ca dao Bình Định
Ca dao Huế và Thừa Thiên
Ca dao Kinh Bắc
Ca dao Hà Nội
Tinh thần tục ngữ ca dao miền Bắc
Thưởng thức hương trà
Tục ăn trầu
Sản phẩm thường được mua cùng
Sản phẩm đã xem
Để lại lời nhắn cho chúng tôi
Đăng kí thông tin thành công
Cảm ơn bạn đã để lại thông tin
Chúng tôi sẽ liên hệ với bạn trong thời gian sớm nhất
Thông báo sẽ tự động tắt sau 5 giây...