Hotline: 028.7301.9778 (8h - 19h, thứ 2 đến thứ 7)
Bạn đang tìm sản phẩm gì?
Đăng nhập tài khoản
Nhập email và mật khẩu của bạn:
Khách hàng mới? Tạo tài khoản
Quên mật khẩu?
Khôi phục mật khẩu
Nhập email của bạn:
Bạn đã nhớ mật khẩu?
Giỏ hàng
| TỔNG TIỀN: | 0₫ |
| Xem giỏ hàng | |
Danh mục sản phẩm
- Sách Khai Tâm phát hành
- Sách mới tuyển chọn
-
Sách theo tác giả
- Tâm linh - Tôn giáo
- Triết học
- Văn học
- Kinh tế - Chính trị
- Lịch sử
- Tâm lý - Nghệ thuật sống
- Văn hóa - Nghệ thuật
- Khoa học
- Y học - Thực dưỡng
- Địa lý - Phong thủy
- Giáo dục - Gia đình
- Kỹ năng thường thức
- Văn phòng phẩm
- Văn hóa phẩm tuyển chọn
- Quà tặng tinh thần
- Sách cũ - Sách lỗi
- Ẩm thực
- Manga - Comic
- Chăm sóc sức khỏe
- Phóng sự - Ký sự - Du ký - Tùy bút
- Xem thêm
- Quay về
- Xem tất cả "Sách theo tác giả"
- -George Ohsawa
- -Krishnamurti
- -Osho
- -Kahlil Gibran
- -Thích Nhất Hạnh
- -Thích Tuệ Sỹ
- -Lê Mạnh Thát
- -Thích Tuyên Hóa
- -Đại sư Tinh Vân
- -Bùi Giáng
- -Phạm Công Thiện
- -Kim Định
- -Nguyễn Duy Cần
- -Nguyễn Hiến Lê
- -Vương Hồng Sển
- -Sơn Nam
- -Hồ Biểu Chánh
- -Toan Ánh
- -Nguyên Phong
- -Nguyễn Tường Bách
- -Đỗ Hồng Ngọc
- -Trịnh Xuân Thuận
- -Tô Hoài
- -Nguyễn Nhật Ánh
- Quay về
- Xem tất cả "Kinh tế - Chính trị"
- -Quản trị & Lãnh đạo
- -Tài chính & Kế toán
- -Tiếp thị & Bán hàng
- -Kỹ năng làm việc
- -Thành tựu kinh doanh
- -Nghiên cứu & Phân tích
- Quay về
- Xem tất cả "Văn phòng phẩm"
- -Bút viết
- -Chuốt chì
- -Bút chì
- -Keo dán
- -Gôm tẩy
- -Bút sáp màu
- -Bút lông màu
- -Văn phòng phẩm
- -Ống cắm bút
- -Dụng cụ văn phòng
- -Dụng cụ học tập
- -Tập-Sổ
- -Túi xách
-
Đảm bảo chất lượng -
Miễn phí vận chuyển -
Mở hộp kiểm tra nhận hàng
Bạn đang tìm sản phẩm gì?
- Trang chủ
- Tâm linh - Tôn giáo
- Siddhartha - Hermann Hesse - Tái bản 2026
-20%
OFF
OFF
Siddhartha - Hermann Hesse - Tái bản 2026
Tình trạng: Còn hàng Thương hiệu: Nhã Nam- Hình thức bìa: Bìa mềm
- Dịch giả: Lê Chu Cầu
- Năm xuất bản: 2026
- Trọng lượng: 330
- Khổ sách: 12 x 20 cm
- Công ty phát hành: Nhã Nam
- Số trang: 220
- Tác giả: Hermann Hesse
- Nhà xuất bản: NXB Văn Học
Chính sách bán hàng
Cam kết 100% chính hãng
Miễn phí giao hàng từ 250k (nội thành HCM), và từ 500k (ngoại thành HCM và tỉnh)
Hỗ trợ từ thứ 2 đến thứ 7 (8h - 18h)
Thông tin thêm
Hoàn tiền
111%
nếu hàng giả
Mở hộp
kiểm tra
nhận hàng
Đổi trả trong
7 ngày
THƯỜNG ĐƯỢC MUA CÙNG
Mô tả sản phẩm
Nobel văn chương 1946
Lấy bối cảnh Ấn Độ những năm Đức Phật còn tại thế, “Siddhartha” dẫn tôi vào cuộc hành trình đi tìm chân lý của hai chàng trai trẻ Siddhartha và Govinda. Cả hai đều được sinh ra trong một gia đình Bà La Môn giáo, đều ấp ủ một khát khao tìm ra chân lí: “Nhưng nó ở đâu, cái ngã ấy, cái linh hồn ấy, cái thâm sâu ấy, cái tột cùng ấy ở đâu?”. Cả hai cùng từ biệt gia đình đi theo những sa môn khổ hạnh vào ẩn thất trong rừng sâu. Cùng từ bỏ những tu sĩ Sa môn già để tìm nghe những lời giảng của Đức Cồ Đàm. Chính tại lúc này thì con đường của cả hai mới rẽ sang hai hướng. Govinda gia nhập tăng đoàn còn Siddhartha tiếp tục con đường của mình. Có cùng một mục đích nhưng cách thực hiện mục đích của họ không giống nhau. Govinda thường căn cứ, tuân theo những lời giảng của các vị thầy, còn Siddhartha thì: “Ta muốn học từ chính ta, muốn là học trò của chính ta, ta muốn biết chính ta, muốn biết điều bí ẩn tên là Siddhartha.” Đoạn tiếp theo khi kể về cuộc hành trình của Siddhartha ở ngoài cuộc sống thực tế. Đầu tiên anh gặp ông lái đò người cho anh qua sông mà không một đòi hỏi vì ông tin rằng “mọi sự đều trở lại”. Tiếp theo đó là gặp kĩ nữ Kamala người dạy cho anh biết về tình yêu nam nữ , và Kamaswami người dạy cho anh biết về buôn bán. Hai mươi năm sau đó Siddhartha đắm chìm vào dục vọng và vui thú ở chốn nhân gian. Người thanh niên khoan thai và hiền hậu ấy đã biết nổi giận và cau có. Cho đến khi anh mơ một giấc mơ về con chim xinh đẹp của Kamala chết ở trong lồng, Siddhartha bừng tỉnh, chàng bỏ hết mọi thứ và lại một lần nữa ra đi. Chàng trở về dòng sông nơi mình đã có lần chào từ biệt và gặp lại ông lái đò xưa. Chàng quyết định ở lại với ông lái đò già, Vasudeva. Chính tại nơi đây chàng gặp lại Kamala, người kỹ nữ xinh đẹp xưa kia trong hình dáng một thiếu phụ già nua. Kamala bị rắn cắn chết và để lại cho chàng đứa con của mình. Lần đầu tiên chàng hiểu thế nào là tình yêu thương và cố gắng níu kéo nó ở bên mình, nhưng sự cách biệt về cuộc sống và suy nghĩ khiến nó từ bỏ chàng đi. Chàng đã rất đau khổ và chính lúc này chàng đã giác ngộ nhờ việc lắng nghe dòng sông. Kết thúc truyện là sự tái ngộ giữa Govinda và Siddhartha khi cả hai đã quá già tuy nhiên cuối cùng họ cũng tìm ra sự giác ngộ cho riêng bản thân mình.
Ở “Siddhartha” tôi bắt gặp những trang văn đầy tính triết lí qua những đoạn đối thoại giữa Siddhartha và Govinda giữa Siddhartha và Vasudeva, hay giữa Siddhartha và Đức Cồ Đàm: “ Nhưng khuyên anh, hỡi kẻ khát khao hiểu biết, hãy tránh xa rừng quan niệm và sự tranh cãi về từ ngữ. Quan niệm chẳng có nghĩa lý gì, chúng có thể đẹp hay xấu, khôn hay dại, ai cũng có thể theo hay gạt bỏ. Nhưng giáo lý của ta, mà anh đã nghe, không phải là quan niệm và mục đích của nó không phải là giải thích thế giới cho kẻ khát khao hiểu biết. Mục đích của nó khác hẳn, mục đích của nó là giải thoát khỏi khổ đau.”
Ở “Siddhartha” tôi nhận ra vẻ đẹp và bí mật của dòng sông. Chính tại dòng sông ấy mà Vasudeva, một ông lái đò đã học về cuộc sống. Và từ dòng sông ấy Siddhartha đã ngộ ra chân lí: “ Và khi Siddhartha chăm chú lắng nghe dòng sông này, lắng nghe bài ca muôn điệu này, khi anh không nghe riêng nỗi khổ đau hay tiếng cười vui, khi anh không ràng buộc hồn mình vào một thứ tiếng riêng lẻ nào thâm nhập vào đó với tiểu ngã của mình, mà nghe tất cả, thấu triệt cái toàn diện, cái nhất thể, thì lúc ấy ca khúc vĩ đại muôn điệu kia chỉ bao hàm một từ duy nhất, đó là “Om” – nghĩa là toàn thiện.”
Ở “Siddhartha” tôi bắt gặp niềm cô đơn mong manh và tuyệt đẹp. Đó là nỗi cô đơn của nàng kỹ nữ Kamala, dẫu vây quanh là vô số người tình. Đó là nỗi cô đơn của lái thương Kamaswami, cả cuộc đời với những lo toan, bộn bề công việc. Đó là nỗi cô đơn của ông lái đò Vasudeva, ngày ngày chở khách sang sông. Đó là nỗi cô đơn của chàng Siddhartha, đơn thân qua những nẻo đường
Ở “Siddhartha” tôi bắt gặp tình yêu thương vô hạn. Đó là tình cha con của cha Siddhartha cho chàng Bà La Môn trẻ Siddhartha, và sau này là của Siddhartha cho chính đứa con của mình. Lòng bao dung của Đức Cồ Đàm với tất cả những người đến tầm đạo, dù ở lại hay ra đi. Tình bạn thân ái giữa Siddhartha với Vasudeva. Vasudeva vì lo sợ cho bạn mình mà ngầm theo dõi Siddhartha khi chàng lên thành phố tìm con. Tình bạn yêu thương chung thủy giữa Govinda và Siddhartha. Bởi chỉ xuất phát từ yêu thương Govinda mới canh cho một người lạ nằm ngủ ở bến sông. Bởi yêu thương nên khi hôn lên trán của Siddhartha, Govinda mới thấu hiểu bạn mình và ngộ ra lẽ thường tình của cuộc đời. Tình yêu thương cũng là điều mà Siddhartha ngộ ra sau bao nhiêu năm kiếm tìm “Còn tôi chỉ thiết tha một điều duy nhất thôi: có thể yêu thương thế giới, không coi thường nó, không thù ghét nó và tôi, có thể nhìn ngắm nó và tôi cùng mọi tạo vật với lòng thương yêu, ngưỡng mộ và kính trọng.”
Ở “Siddhartha” tôi bắt gặp chính bản thân mình. Một con người trẻ với những khao khát, ao ước, thắc mắc về bản thân và cuộc sống. Một con người trẻ đang loay hoay với sự lựa chọn, kiếm tìm con đường cho riêng mình. Và “Siddhartha” đã giúp tôi hiểu ra rằng chỉ khi tôi thực sự trải nghiệm cuộc sống của mình, sống chân thực với nó thì sẽ đạt được mục đích cuối cùng của mình. Bởi chân lí sẽ không nằm trong ngôn ngữ mà nằm trong chân nhận thức của mình.
Ngày trước tôi vẫn nhớ lần đầu tiên đọc “Siddhartha” do Sư cô Phùng Khánh dịch dưới cái tên “Câu chuyện dòng sông” ngày đó tôi không suy nghĩ gì nhưng vẫn thích thú với câu chuyện của chàng Tất Đạt Đa, Thiện Hữu, Kiều Lan, Vệ Sử….(**) Mười năm, hai mươi năm nữa khi đọc lại tiểu thuyết này tôi sẽ mang một tâm thế khác và những suy nghĩ khác. Nhưng chắc chắn tôi vẫn sẽ thầm cảm ơn Hermann Hesse đã đem lại cho tôi một chút trầm tư, một niềm thỏa thích, một con đường gợi mở….
(*) Câu trích từ Phật giáo Việt Nam và thế giới, thiền sư Đinh Lực & cư sĩ Nhất Tâm, nxb Văn Hóa Thông Tin, 2003
(**) Tên của Siddhartha, Govinda, Kamala, Vasudeva ở bản dịch “Câu chuyện dòng sông”, Phùng Khánh dịch, nxb Hội Nhà Văn, 1996.
Những câu trong ngoặc kép là những câu, đoạn trích từ tiểu thuyết “Siddhartha” của Hermann Hesse, Lê Chu Cầu dịch từ nguyên bản tiếng Đức, nxb Văn Học, 2009.
@ Nguyen Hanh Phuoc An
Nguồn: nhanam.vn
Ở “Siddhartha” tôi bắt gặp những trang văn đầy tính triết lí qua những đoạn đối thoại giữa Siddhartha và Govinda giữa Siddhartha và Vasudeva, hay giữa Siddhartha và Đức Cồ Đàm: “ Nhưng khuyên anh, hỡi kẻ khát khao hiểu biết, hãy tránh xa rừng quan niệm và sự tranh cãi về từ ngữ. Quan niệm chẳng có nghĩa lý gì, chúng có thể đẹp hay xấu, khôn hay dại, ai cũng có thể theo hay gạt bỏ. Nhưng giáo lý của ta, mà anh đã nghe, không phải là quan niệm và mục đích của nó không phải là giải thích thế giới cho kẻ khát khao hiểu biết. Mục đích của nó khác hẳn, mục đích của nó là giải thoát khỏi khổ đau.”
Ở “Siddhartha” tôi nhận ra vẻ đẹp và bí mật của dòng sông. Chính tại dòng sông ấy mà Vasudeva, một ông lái đò đã học về cuộc sống. Và từ dòng sông ấy Siddhartha đã ngộ ra chân lí: “ Và khi Siddhartha chăm chú lắng nghe dòng sông này, lắng nghe bài ca muôn điệu này, khi anh không nghe riêng nỗi khổ đau hay tiếng cười vui, khi anh không ràng buộc hồn mình vào một thứ tiếng riêng lẻ nào thâm nhập vào đó với tiểu ngã của mình, mà nghe tất cả, thấu triệt cái toàn diện, cái nhất thể, thì lúc ấy ca khúc vĩ đại muôn điệu kia chỉ bao hàm một từ duy nhất, đó là “Om” – nghĩa là toàn thiện.”
Ở “Siddhartha” tôi bắt gặp niềm cô đơn mong manh và tuyệt đẹp. Đó là nỗi cô đơn của nàng kỹ nữ Kamala, dẫu vây quanh là vô số người tình. Đó là nỗi cô đơn của lái thương Kamaswami, cả cuộc đời với những lo toan, bộn bề công việc. Đó là nỗi cô đơn của ông lái đò Vasudeva, ngày ngày chở khách sang sông. Đó là nỗi cô đơn của chàng Siddhartha, đơn thân qua những nẻo đường
Ở “Siddhartha” tôi bắt gặp tình yêu thương vô hạn. Đó là tình cha con của cha Siddhartha cho chàng Bà La Môn trẻ Siddhartha, và sau này là của Siddhartha cho chính đứa con của mình. Lòng bao dung của Đức Cồ Đàm với tất cả những người đến tầm đạo, dù ở lại hay ra đi. Tình bạn thân ái giữa Siddhartha với Vasudeva. Vasudeva vì lo sợ cho bạn mình mà ngầm theo dõi Siddhartha khi chàng lên thành phố tìm con. Tình bạn yêu thương chung thủy giữa Govinda và Siddhartha. Bởi chỉ xuất phát từ yêu thương Govinda mới canh cho một người lạ nằm ngủ ở bến sông. Bởi yêu thương nên khi hôn lên trán của Siddhartha, Govinda mới thấu hiểu bạn mình và ngộ ra lẽ thường tình của cuộc đời. Tình yêu thương cũng là điều mà Siddhartha ngộ ra sau bao nhiêu năm kiếm tìm “Còn tôi chỉ thiết tha một điều duy nhất thôi: có thể yêu thương thế giới, không coi thường nó, không thù ghét nó và tôi, có thể nhìn ngắm nó và tôi cùng mọi tạo vật với lòng thương yêu, ngưỡng mộ và kính trọng.”
Ở “Siddhartha” tôi bắt gặp chính bản thân mình. Một con người trẻ với những khao khát, ao ước, thắc mắc về bản thân và cuộc sống. Một con người trẻ đang loay hoay với sự lựa chọn, kiếm tìm con đường cho riêng mình. Và “Siddhartha” đã giúp tôi hiểu ra rằng chỉ khi tôi thực sự trải nghiệm cuộc sống của mình, sống chân thực với nó thì sẽ đạt được mục đích cuối cùng của mình. Bởi chân lí sẽ không nằm trong ngôn ngữ mà nằm trong chân nhận thức của mình.
Ngày trước tôi vẫn nhớ lần đầu tiên đọc “Siddhartha” do Sư cô Phùng Khánh dịch dưới cái tên “Câu chuyện dòng sông” ngày đó tôi không suy nghĩ gì nhưng vẫn thích thú với câu chuyện của chàng Tất Đạt Đa, Thiện Hữu, Kiều Lan, Vệ Sử….(**) Mười năm, hai mươi năm nữa khi đọc lại tiểu thuyết này tôi sẽ mang một tâm thế khác và những suy nghĩ khác. Nhưng chắc chắn tôi vẫn sẽ thầm cảm ơn Hermann Hesse đã đem lại cho tôi một chút trầm tư, một niềm thỏa thích, một con đường gợi mở….
(*) Câu trích từ Phật giáo Việt Nam và thế giới, thiền sư Đinh Lực & cư sĩ Nhất Tâm, nxb Văn Hóa Thông Tin, 2003
(**) Tên của Siddhartha, Govinda, Kamala, Vasudeva ở bản dịch “Câu chuyện dòng sông”, Phùng Khánh dịch, nxb Hội Nhà Văn, 1996.
Những câu trong ngoặc kép là những câu, đoạn trích từ tiểu thuyết “Siddhartha” của Hermann Hesse, Lê Chu Cầu dịch từ nguyên bản tiếng Đức, nxb Văn Học, 2009.
@ Nguyen Hanh Phuoc An
Nguồn: nhanam.vn
Về tác giả
Hermann Hesse (2/7/1877 - 9/8/1962) là nhà thơ, nhà văn và họa sĩ người Đức, được tặng Giải Nobel Văn học năm 1946. Hermann Hesse sinh ra ở Đức, trong một gia đình truyền giáo Kitô giáo. Cha mẹ ông đều nhận nhiệm vụ của Hội truyền giáo Basel hoạt động tại Ấn Độ. Ông bà điều khiển một nhà xuất bản sách truyền giáo từ năm 1873 dưới sự lãnh đạo của ông ngoại ông là Hermann Gundert.
Cuối năm 1892, ông đỗ kỳ thi trung học nhưng bỏ học để theo nghề bán sách rồi nghề thợ cơ khí trong một nhà máy sản xuất đồng hồ. Công việc hàn giũa đơn điệu chẳng bao lâu lại cổ vũ cho mong muốn quay lại với các công việc trí óc của ông. Tháng 10-1895 ông chấp nhận bắt đầu học lại nghiêm túc nghề bán sách. Sau này ông đã chuyển các từng trải thời trẻ này của mình vào trong quyển tiểu thuyết Unterm Rad (Dưới bánh xe).
Từ tháng 10-1895 Hermann Hesse làm việc tại tiệm bán sách Heckenhauer ở Tübingen, chủ yếu bán các sách về thần học, triết học và luật. Là người học nghề, nhiệm vụ của Hesse bao gồm đối chiếu, đóng gói, phân loại và lưu trữ sách. Sau mỗi ngày làm việc 12 tiếng, Hesse tiếp tục tự học. Năm 1896 bài thơ đầu tiên của ông được in trong một tạp chí xuất bản ở Wien, các bài thơ khác lần lượt được đăng trong các số phát hành sau đó của Organ für Dichtkunst und Kritik (Cơ quan về nghệ thuật thơ và phê bình).
Mùa thu 1898 Hesse xuất bản tập thơ nhỏ đầu tiên của mình, Romantische Lieder (Các bài hát lãng mạn), và mùa hè 1899 xuất bản tập văn xuôi Eine Stunde hinter Mitternacht (Một giờ đằng sau nửa đêm). Cả hai tác phẩm đều thất bại về mặt kinh doanh. Mặc dầu vậy nhà xuất bản Eugen Diederichs ở Leipzig vẫn tin tưởng vào chất lượng văn học của các tác phẩm này và ngay từ đầu đã xem việc xuất bản như là một hình thức khuyến khích cho tác giả trẻ này hơn là một việc kinh doanh cần mang lại lợi nhuận. Tiểu thuyết Peter Camenzind, được in thử năm 1903, chính thức phát hành năm 1904, trở thành bước đột phá: từ đây Hesse có thể sống như một nhà văn tự do.
Khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, ngày 3 -10 -1914 ông đăng trên tờ Neue Zürcher Zeitung (Báo Zürich mới) bài luận văn O freunde, nicht diese Töne (Các bạn ơi đừng nói như vậy) kêu gọi giới trí thức Đức đừng xông vào cuộc bút chiến giữa các quốc gia. Những gì xảy ra sau đó được Hesse miêu tả sau này như là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời của ông. Lần đầu tiên ông đứng bên trong một cuộc xung đột chính trị dữ dội: giới báo chí Đức tấn công ông, nhiều thư hăm dọa được gửi tới và bạn bè cũ từ chối ông. Mặc dầu vậy ông tiếp tục nhận được sự đồng tình của Theodor Heuss và của cả nhà văn người Pháp Romain Rolland.
Các mâu thuẫn với giới báo chí Đức chưa lắng xuống thì Hesse lại bị đẩy vào một cuộc khủng hoảng khác trầm trọng hơn qua cái chết của cha ông vào ngày 8-3-1916. Ông phải ngưng phục vụ cho cơ quan chăm sóc tù binh và đi chữa trị bằng liệu pháp tâm lý. Việc chữa trị này chẳng những mang lại mối quen biết trực tiếp với Carl Gustav Jung mà còn dẫn ông đi đến một đỉnh cao sáng tạo mới: Tháng 9 và tháng 10-1917, trong một cơn say mê làm việc ông đã viết quyển tiểu thuyết Demian của mình chỉ trong vòng ba tuần. Quyển sách được xuất bản sau khi chiến tranh chấm dứt năm 1919 dưới bút danh Emil Sinclair.
Năm 1922 quyển tiểu thuyết về Ấn Độ của ông, Siddhartha, được xuất bản. Tình yêu nền văn hóa Ấn Độ và các học thuyết Á châu, những cái mà ông đã biết đến ngay từ khi còn ở với cha mẹ, đã được biểu lộ trong quyển tiểu thuyết này. Năm 1923 Hesse nhận được quốc tịch Thụy Sĩ. Các tác phẩm lớn kế tiếp của ông, Kurgast (Khách dưỡng bệnh) năm 1925 và Die Nürnberger Reise (Chuyến đi Nürnberg) năm 1927, là các tự truyện mang giọng mỉa mai, báo hiệu trước cuốn tiểu thuyết thành công nhất của Hesse, Der Steppenwolf (Sói thảo nguyên) năm 1927.
Năm 1931 Hesse bắt đầu phác thảo tác phẩm lớn cuối cùng của mình, Das Glasperlenspiel (Trò chơi hạt ngọc thủy tinh). Năm 1932 ông xuất bản quyển truyện kể Die Morgenlandfahrt (Hành trình về phương Đông) như là bản phác thảo trước cho tác phẩm này.
Hesse theo dõi việc những người thuộc đảng quốc xã lên cầm quyền ở Đức với một nỗi lo âu lớn. Hesse cố gắng chống lại sự phát triển trong nước Đức bằng cách của ông: ông đã viết nhiều bài bình luận về sách trên các báo Đức kêu gọi ủng hộ các tác giả người Do Thái và các tác giả khác đang bị người của Đảng quốc xã theo dõi.
Bắt đầu từ giữa thập niên 1930 không một báo Đức nào dám đăng bài của ông nữa. Hesse trốn tránh các xung đột chính trị và sau đó trước những tin tức khủng khiếp của Chiến tranh thế giới lần thứ hai bằng cách viết quyển tiểu thuyết Das Glasperlenspiel của mình, được in ở Thụy Sĩ vào năm 1943. Ông nhận Giải Nobel văn chương năm 1946 không chỉ vì tác phẩm lớn lao này.
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, sức sáng tạo của ông giảm sút, ông chỉ viết truyện kể và thơ nhưng không còn viết tiểu thuyết nữa. Hesse là tác giả người Đức được đọc và dịch nhiều nhất - hơn 100 triệu quyển sách của ông đã được bán trên khắp thế giới.
Để tưởng niệm Hesse hai giải thưởng văn chương được đặt theo tên ông: Giải thưởng Hermann Hesse và Giải thưởng văn học Hermann Hesse.
Sản phẩm thường được mua cùng
Sản phẩm đã xem
Để lại lời nhắn cho chúng tôi
Đăng kí thông tin thành công
Cảm ơn bạn đã để lại thông tin
Chúng tôi sẽ liên hệ với bạn trong thời gian sớm nhất
Thông báo sẽ tự động tắt sau 5 giây...